EnglishVietnamese

Doanh nhân Việt Nam xưa xây dựng thương hiệu như thế nào?

Thương hiệu tưởng rằng là từ khóa của thời hiện đại, đặc biệt là kỷ nguyên số như ngày nay. Nhưng không, từ thời xa xưa, người Việt Nam đã có những dấu ấn về thương hiệu. Điều đó cho thấy, khi giá trị kinh tế qua đi, khi con người đã lùi về thiên cổ, lúc này, thương hiệu đã không còn giá trị cân, đong, đo, đếm nữa mà nó trở thành di sản, một chứng tích về lịch sử đồng hành cùng thế giới con người.

1.    Khắc tên nhận diện thương hiệu
 

Có lẽ người manh nha về “thương hiệu” đầu tiên trong lịch sử của Việt Nam chính là chàng rể năm nào của Vua Hùng - Mai An Tiêm. Khi bị đày ra đảo hoang lập “trang trại” dưa hấu, chàng đã nghĩ ra cách khắc tên mình vào trái dưa, đưa vào đất liền để “quảng bá”. Con sóng đại dương đã đưa thương hiệu trái dưa xanh vỏ đỏ lòng của chàng “tiếp thị”, “mời gọi” thương lái đến đảo mua dưa. Kết quả chàng An Tiêm và vợ được vua cha công nhận. 
Người ta cũng tìm thấy nhiều viên gạch lớn có khắc dòng chữ “Đại Việt Quốc quân thành chuyên” ở di tích cố đô Hoa Lư. Phải chăng đó là những thương hiệu đầu tiên trên sản phẩm còn lưu lại đến nay trong các bảo tàng?
Tại Bảo tàng Topkapi Saray ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), ghi rõ dòng chữ ghi nhận niên đại sản xuất: “Năm Đại hóa thứ tám” (tức 1450) dưới thời Lê Nhân Tông, địa điểm sản xuất (Nam Sách – Hải Dương) và đặc biệt là người sản xuất: “Bùi thị hí bút” (người họ Bùi vẽ chơi)… Muộn hơn một chút, ngày nay còn nhiều sản phẩm có chất lượng cao mà tiêu biểu nhất là Đặng Huyền Thông cũng ở lò gốm vùng Nam Sách thời Mạc…
Tên các nghệ nhân được lưu lại trên các sản phẩm gốm như dấu ấn của con người, là phần hồn tạo nên thương hiệu và cùng với tên người ấy là vùng đất làm ra sản phẩm (thương hiệu địa phương) như Chu Đậu (Hải Dương), Bát Tràng (xưa Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội), Gò Sành (Bình Định)…

2.    Thương hiệu gắn với ý tưởng kinh doanh:
 
Trương Văn Bền và vợ

Cho đến giữa thế kỷ XIX, thương hiệu không còn là một con người cụ thể nữa mà là ý tưởng kinh doanh của một nhóm người hay một công ty. Đó là cái tên “Cảm Hiếu Đường” của cửa hiệu chụp ảnh đầu tiên mở tại Hà Nội vào năm 1869, chủ hiệu là nhà canh tân hàng đầu khi đó: Đặng Huy Trứ.
Qua thời cận đại trong bối cảnh thuộc địa, doanh nhân thời này muốn gắn kết giao thương với thân phận người dân mất nước, nung nấu tinh thần dân tộc và chí hướng cứu nước nên ra đời hàng loạt những thương hiệu mà ngày nay chúng ta hay gọi là “thương hiệu quốc gia”. Ở Miền Nam có “Minh Tân Khách sạn” của những nhà duy tân ở Nam Kỳ như Trần Chánh Chiếu. Thương hiệu “Cô Ba” in hình khuôn mặt phụ nữ điển hình của Nam Kỳ trên những bánh xà phòng của Trương Văn Bền…
Ở Miền Bắc có “Giang Hải Luân thuyền Bạch Thái Công ty” với hình lá cờ vàng với hình mỏ neo và ba ngôi sao đỏ từng một thời tung hoành ngang dọc sông nước đồng bằng Bắc Bộ của Bạch Thái Bưởi. Đặc biệt với con tàu mang tên “Bình Chuẩn” (tên gọi cơ quan chuyên lo việc kinh doanh của nhà nước truyền thống) trọng tải 600 tấn do kỹ sư và thợ cả Việt Nam đóng từ Hải Phòng vượt biển vào tận Sài Gòn năm 1919 là niềm tự hào của doanh nghiệp Việt Nam thời mất nước.
Công cuộc canh tân đất nước với vị thục trưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục Lương Văn Can nung nấu tư tưởng gây dựng “đạo làm giàu”, viết sách cổ vũ và hướng dẫn cách buôn bán, tổ chức doanh nghiệp làm giàu để cứu nước, thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang.

3.    Thăng trầm, những bài học và thương hiệu
 

Trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm, ngoài nhiệm vụ sản xuất phục vụ chiến trường, nhiều doanh nhân Việt Nam khi ấy cũng dấn thân cầm súng cùng cả dân tộc, không ít người đã hy sinh.
Nhưng sau khi hòa bình lập lại, những đóng góp của doanh nhân lại không được công nhận. Sự sai lầm trong chính sách đã làm thui chột thế hệ những người biết làm giàu. Đó là giai đoạn mà doanh nhân Việt thử thách lớn nhất.
Bước vào năm 2003, với khí thế không ngơi nghỉ để tiếp tục thúc đẩy đổi mới hơn nữa, doanh nhân Việt Nam lúc này vừa nghiên cứu, làm quen để hội nhập nên có những khó khăn. “Vụ kiện cá ba sa” là bài học để doanh nhân Việt đoàn kết lại, học hỏi và không ngừng phát huy tinh thần phẩm chất của người chiến sĩ trong quá khứ. Thương trường, giao thương khi này cũng chính là mặt trận, người lính giáp lá cà giờ đây chính là những doanh nhân. “Dân giàu” thì “nước mạnh”, vậy nên, bảo vệ đất nước khi này chính là xây dựng đất nước giàu mạnh.

4.    Thương hiệu của kỷ nguyên số:
 

Ngày nay, thương hiệu là điểm không thể thiếu trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhưng không còn đơn thuần chỉ là khắc tên, ký dấu… mà thương hiệu giờ đây phải được đầu tư xây dựng có chiến lược. Thế kỷ mới, thương hiệu cá nhân được đề cao, trong đó thương hiệu người đứng đầu là điểm mạnh, bảo chứng phát triển của cả doanh nghiệp. Thế giới đã và đang làm rất tốt. Việt Nam chúng ta không thiếu những tài năng xuất chúng nhưng chúng ta đang thiếu những cá nhân khẳng định được mình trên trường quốc tế bằng …thương hiệu.
Những cái tên như Phạm Nhật Vượng, Nguyễn Phương Thảo, Mai Kiều Liên, Trần Đình Long… đã đưa Việt Nam vươn ra xa hơn, để thế giới nhìn vào Việt Nam là mảnh đất đầy tiềm năng và tài năng.
Thế nên, bên cạnh thương hiệu cá nhân người lãnh đạo là năng lực cạnh tranh phát triển doanh nghiệp. Thương hiệu địa phương cũng nhờ đó mà được kiện toàn, thu hút đầu tư. 
Hy vọng rằng, từ những chặng đường đã qua của lịch sử, với những thời cơ ở tương lai, doanh nhân Việt Nam phát huy truyền thống và hội nhập thế giới để trở thành “danh nhân”, sống mãi ngàn đời cùng đất nước.
Tham khảo từ nhà sử học Dương Trung Quốc trong cuốn “Doanh nhân Việt Nam”
 

Có thể bạn quan tâm

Thảo luận

0 bình luận
  • Bài viết chưa có bình luận nào!
0 Bình luận về Doanh nhân Việt Nam xưa xây dựng thương hiệu như thế nào?
Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để đánh bình luận.